Thứ Ba, 16 tháng 9, 2025

Siêu âm các tổn thương mô mềm ở trẻ em

        Siêu âm là phương tiện dễ tiếp cận, không nhiễm xạ và có độ phân giải cao đối với mô mềm nên thường là khảo sát hình ảnh đầu tiên được thực hiện để đánh giá các tổn thương có thể sờ thấy hoặc nhìn thấy ở trẻ em.

Kỹ thuật

Trước khi bắt đầu siêu âm, nên xem hình dạng bên ngoài của tổn thương, thay đổi màu da và khai thác bệnh sử lâm sàng, bao gồm tuổi khởi phát, thời gian diễn biến của tổn thương, triệu chứng lâm sàng. Các tổn thương mô mềm bề mặt nên được kiểm tra bằng đầu dò thẳng tần số cao (>10MHz) để có độ phân giải không gian tối đa của các cấu trúc bề mặt và thông tin chi tiết về các lớp da và mô dưới da. 

A picture containing text, screenshot, black and white, monochrome photography

Description automatically generated
Hình 1: Cấu trúc mô mềm bình thường ở mặt lưng của cẳng tay trên siêu âm.

Độ hồi âm của tổn thương nên được so sánh với lớp mỡ dưới da hoặc cơ lân cận. Siêu âm rất hữu ích trong việc phân biệt giữa tổn thương dạng nang và dạng đặc. Một khối giảm âm với tăng âm phía sau là dấu hiệu đặc trưng của tổn thương dạng nang. Ngoài ra, khi ấn bằng đầu dò, các tổn thương dạng nang có thể bị đè ép dễ dàng hơn các tổn thương đặc, mặc dù một số tổn thương dạng nang không biến dạng khi ấn. Doppler màu là cần thiết để xác nhận tính chất mạch máu, đặc hoặc nang của một khối. Độ nhạy của Doppler màu có thể được cải thiện bằng cách giảm scale hay PRF, tăng gain màu và giảm mức độ đè ép đầu dò lên tổn thương để tránh chèn ép các mạch máu nhỏ. Khảo sát Doppler phổ bao gồm dạng sóng (động mạch hay tĩnh mạch), vận tốc và chỉ số sức cản (RI).

Phần 1: Các bất thường mạch máu

Theo phân loại của Hiệp hội Nghiên cứu Bất thường Mạch máu Quốc tế (ISSVA) cập nhật năm 2018, bất thường mạch máu được chia thành u mạch máu và dị dạng mạch máu. 

A screenshot of a computer

Description automatically generated with medium confidence


Khối u mạch máu

Các khối u mạch máu có thể được phân loại là lành tính, xâm lấn tại chỗ (hay còn gọi giáp biên) và ác tính. Các khối u mạch máu lành tính bao gồm u máu ở trẻ nhỏ (infantile hemangioma), u máu bẩm sinh (congenital hemangioma), u mạch máu dạng búi (tufted angioma) và u máu mao mạch tiểu thùy (lobular capillary hemangioma). 

U máu ở trẻ nhỏ (infantile hemangioma) không xuất hiện khi mới sinh mà có thể bắt đầu phát triển trong tuần đầu tiên đến vài tháng, đạt kích thước tối đa khi trẻ 1 tuổi, sau đó thoái triển chậm. Trên siêu âm, một u máu ở trẻ nhỏ trong giai đoạn tăng sinh thường xuất hiện dưới dạng một khối giới hạn rõ nằm trong mô dưới da có hồi âm thay đổi và có tăng sinh mạch máu mật độ cao bên trong trên Doppler màu (Hình 2) với phổ dạng động mạch vận tốc cao, sức cản thấp. Sau khi đạt đến kích thước tối đa, u mạch máu ở trẻ nhỏ bắt đầu giai đoạn thoái triển được đặc trưng bởi sự giảm kích thước, tăng độ phản âm và giảm mạch máu bên trong do sự thay thế xơ-mỡ.

A picture containing screenshot, art

Description automatically generated

Hình 2: Infantile hemangioma. Phổ dạng động mạch trở kháng thấp.

U mạch máu bẩm sinh (congenital hemangioma) xuất hiện từ khi mới sinh. Theo diễn tiến, u máu bẩm sinh được phân loại thành u máu bẩm sinh thoái triển nhanh (RICH), u máu bẩm sinh không thoái triển (NICH) hoặc u máu bẩm sinh thoái triển một phần (PICH). So với u máu ở trẻ nhỏ, u máu bẩm sinh tương đối hiếm gặp, âm tính với GLUT1 và thường biểu hiện phản âm không đồng nhất với các mạch máu trong tổn thương tương đối lớn, có thể nhìn thấy trên hình ảnh thang xám. Vôi hoá thường không phổ biến nhưng giúp phân biệt u máu bẩm sinh với u máu trẻ nhỏ (thường không vôi hoá). Mật độ mạch máu trên Doppler màu rất cao, tương tự như u máu ở trẻ nhỏ, với dòng chảy động mạch ở vận tốc cao và sức cản thấp. Tuy nhiên, tín hiệu mạch máu tĩnh mạch cũng có thể thấy.

A close-up of a snake

Description automatically generated with low confidence

Hình 3: U mạch máu bẩm sinh thoái triển nhanh (RICH) ở trẻ nam 1 tuổi. Siêu âm thấy khối giới hạn rõ trong mô dưới da với mạch máu giãn lớn.

U máu mao mạch tiểu thùy (lobular capillary hemangioma) còn có tên gọi khác là pyogenic granuloma thường gặp ở bệnh nhân trên 6 tháng tuổi và hầu hết các tổn thương có thể được chẩn đoán trên lâm sàng. Chúng biểu hiện dưới dạng tổn thương mạch máu trên da phát triển nhanh chóng kèm theo chảy máu. Trên siêu âm, chúng có xu hướng có kích thước nhỏ, giảm âm so với lớp mỡ dưới da và tăng sinh mạch với tốc độ cao trên siêu âm Doppler.

Close-up of ultrasound images

Description automatically generated with medium confidence

Hình 4: Lobular capillary hemangioma. Bé gái 13 tuổi có khối phồng ở da đầu.

U nội mô mạch máu dạng Kaposi (Kaposiform hemangioendothelioma -KHE) là một khối u mạch máu xâm lấn tại chỗ, bao gồm các tế bào nội mô hình thoi và các mạch bạch huyết bất thường. KHE thường gặp ở trẻ nhỏ và thường xuất hiện dưới dạng mảng có màu đỏ đến tím, lớn dần, có thể mềm. Trên siêu âm, nó xuất hiện dưới dạng một tổn thương không đồng nhất, giới hạn không rõ và có thể khu trú hoặc lan tỏa, giới hạn ở lớp mỡ dưới da hoặc liên quan đến tất cả các lớp mô mềm (Hình 5). KHE có thể liên quan đến rối loạn đông máu do tăng tiêu thụ (consumptive coagulopathy) trong hơn 50% trường hợp (Kasabach-Merritt phenomenon)

A picture containing x-ray film, medical imaging, radiology, medical radiography

Description automatically generated

Hình 5: KHE ở bé gái 2 ngày tuổi có hiện tượng Kasabach-Merritt. Siêu âm (A) cho thấy một khối lớn không đồng nhất giới hạn không rõ, thâm nhiễm mô dưới da và hệ cơ bên dưới với sự dày lên rõ rệt của da. Siêu âm Doppler màu (B) cho thấy tăng sinh mạch nhiều. Hình T2W FS (C) cho thấy khối tín hiệu cao không đồng nhất (mũi tên). Hình T1W FS Gd (D) khối bắt thuốc mạnh

Dị dạng mạch máu

Dị dạng mạch máu có thể được phân loại chính về mặt mô học thành dị dạng mạch bạch huyết, mao mạch, tĩnh mạch, động tĩnh mạch hoặc hỗn hợp. Dị dạng tĩnh mạch (Venous malformation) là dị dạng mạch máu phổ biến nhất, chiếm 1% dân số nói chung. VM thường xuất hiện dưới dạng các tổn thương có thể sờ thấy và có thể cho thấy sự thay đổi màu da hơi xanh hoặc các mạch máu giãn. Trên siêu âm, VM xuất hiện dưới dạng khối giới hạn rõ với hình dạng bọt biển (spongiform) (Hình 6). Mức dịch-dịch có thể thấy do lưu lượng máu rất chậm với sự ứ trệ dòng máu và hình thành nên mức hematocrit. Việc phát hiện sỏi tĩnh mạch (phleboliths) rất hữu ích trong chẩn đoán VM nhưng không phổ biến ở trẻ em. Siêu âm Doppler màu cho thấy dòng chảy của mạch máu với tốc độ chậm, mặc dù không hiếm trường hợp gặp khó khăn trong việc chứng minh mạch máu trong tổn thương trên thực hành lâm sàng.

A picture containing text, screenshot, art

Description automatically generated

Hình 6: Dị dạng tĩnh mạch ở bé trai 9 tuổi với khối ở tay. Siêu âm (A) cho thấy tổn thương trong cơ chứa cấu trúc ngoằn ngoèo không (mũi tên) và có phản âm do dòng máu chậm. Có tổn thương tăng âm khu trú với bóng cản âm phía sau, gợi ý sỏi tĩnh mạch (đầu mũi tên). Doppler màu (B) cho thấy dòng chảy tĩnh mạch.

Dị dạng bạch huyết (Lymphatic malformation) có thể được chia thành các loại macrocystic, microcystic và hỗn hợp. Tổn thương dạng macrocystic bao gồm các nang lớn hơn 1–2 cm (Hình 7) và có thết giảm kích thước một cách hiệu quả bằng chọc hút hoặc chích xơ. Trong khi các khoảng tĩnh mạch trong VM có thể bị xẹp khi bị chèn ép, thì các khoảng dạng nang trong LM có thể bị biến dạng nhưng thường không bị xẹp hoàn toàn khi bị chèn ép. LM microcystic thường xuất hiện dưới dạng các tổn thương đặc tăng âm do có vô số các nang quá nhỏ không thể nhìn thấy bằng độ phân giải của đầu dò và cũng có thể nhìn thấy một số nang rải rác.

A picture containing medical imaging, monochrome, radiology, black and white

Description automatically generated

Hình 7: Dị dạng bạch huyết ở bé gái 9 tuổi với khối sờ thấy ở cổ tay. Siêu âm (A) thấy khối dạng nang đa thuỳ và một số mảnh vụn có phản âm. Hình T2W FS axial (B) cũng cho thấy hình ảnh nang với vách ngăn bên trong.

Dị dạng động tĩnh mạch (Arteriovenous malformation) là một mạng lưới bất thường của các mạch máu động mạch và tĩnh mạch mà không có sự hiện diện của các mao mạch. AVM là những tổn thương có dòng chảy cao và thường được chẩn đoán phân biệt với u mạch máu. Diễn biến lâm sàng, từ tổn thương không triệu chứng đến xuất huyết và suy tim, được mô tả theo phân loại Schobinger. Trên siêu âm, các dị dạng động tĩnh mạch có thể có hình dạng rất đa dạng—từ một tập hợp các mạch có kích thước vừa phải tạo một tổn thương có thể phát hiện được trong các mô mềm, cho đến một búi mạch không tạo “hiệu ứng khối” thật sự, do đó không thể được phát hiện trên siêu âm B-mode mà chỉ phát hiện được trên Doppler màu. Một yếu tố cần xem xét là sự hiện diện của sự tăng sinh mô mỡ quanh AVM cho hình ảnh một vành tăng âm mỏng giúp phân định tổn thương (Hình 8). 

Trên siêu âm Doppler màu, AVM có “mật độ mạch cao” với dòng chảy đa hướng. Phân tích Doppler phổ cho thấy các mạch máu động mạch có dòng chảy tốc độ cao và chỉ số trở kháng thấp (Hình 9). So với u mạch máu, mạch máu tĩnh mạch trong AVM có tốc độ dòng chảy trung bình cao hơn, với sóng “động mạch hóa” (Hình 10).

A picture containing moon, astronomical object, crater, black and white

Description automatically generated

Hình 8: Arteriovenous malformation ở trẻ 3 tháng tuổi. Tổn thương giảm âm (*) trong mô dưới da với viền tăng âm mỏng (mũi tên) 

A close-up of a ultrasound

Description automatically generated with low confidence

Hình 9: AVM ở trẻ 8 tuổi. Phổ Doppler dạng động mạch sức cản thấp.

A picture containing screenshot, art

Description automatically generated

Hình 10: So sánh phổ tĩnh mạch trong infantile hemangioma (hình a) và AVM (hình b).


(Còn tiếp phần 2)


Tài liệu tham khảo 

  1. Kim HW, Yoo SY, Oh S, Jeon TY, Kim JH. Ultrasonography of Pediatric Superficial Soft Tissue Tumors and Tumor-Like Lesions. Korean J Radiol. 2020 Mar;21(3):341-355.

  2. Esposito F, Ferrara D, Di Serafino M, Diplomatico M, Vezzali N, Giugliano AM, Colafati GS, Zeccolini M, Tomà P. Classification and ultrasound findings of vascular anomalies in pediatric age: the essential. J Ultrasound. 2019 Mar;22(1):13-25.

Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2023

HRCT trong xơ phổi vô căn

Xơ phổi vô căn (Idiopathic Pulmonary Fibrosis) là bệnh lý viêm phổi kẽ xơ hoá, diễn tiến mạn tính, không xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh. Bệnh gặp ở người lớn tuổi với khó thở khi gắng sức mạn tính, ho, ran nổ hai phổi, ngón tay dùi trống. Năm 2011 ATS/ERS/JRS/ALAT đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh xơ phổi vô căn và cập nhật tiêu chuẩn này vào năm 2018. 


Chẩn đoán IPF dựa trên các tiêu chuẩn sau:
  1. Loại trừ các nguyên nhân đã biết gây bệnh phổi mô kẽ (ILD): thuốc, môi trường, bệnh nghề nghiệp, bệnh mô liên kết, kèm tiêu chuẩn #2 hoặc #3.
  2. Có kiểu hình UIP (Usual interstitial pneumonia – viêm phổi mô kẽ thông thường) trên HRCT (High-resolution CT – Cắt lớp vi tính phân giải cao).
  3. Kết hợp đặc hiệu giữa kiểu hình trên HRCT và kết quả thiết phổi.
Việc chẩn đoán IPF đòi hỏi sự cộng tác của nhiều chuyên khoa. Bác sĩ lâm sàng khai thác bệnh sử và thể thăm khám bệnh nhân, bác sĩ hình ảnh lồng ngực diễn giải kiểu hình tổn thương trên hình ảnh cắt lớp vi tính ngực có độ phân giải cao (HRCT) và, nếu cần, nhà giải phẫu bệnh diễn giải các mẫu sinh thiết phổi. Tất cả các thông tin thu được phải theo một ngôn ngữ chung để đưa đến quyết định lâm sàng. HRCT đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán bệnh phổi mô kẽ nói chung và IPF nói riêng. Tuy nhiên không thể chẩn đoán IPF nếu chỉ dựa trên CT. Kiểu hình UIP trong IPF trên hình ảnh không thể phân biệt với kiểu hình UIP trong vài bệnh lý mô liên kết, viêm phổi quá mẫn mạn, bệnh bụi phổi… Các tổn thương trên HRCT thường thấy trong kiểu hình UIP bao gồm tổ ong, giãn phế quản và giãn tiểu phế quản phế quản, cũng có thể thấy sự hiện diện đồng thời của tổn thương kính mờ và dạng lưới mịn.

Tổ ong (Honeycombing) là tổn thương dạng các khoảng khí đường kính 3–10 mm, nhưng đôi khi lớn hơn với thành dày, rõ. Tổn thương biểu hiện dưới dạng nhiều lớp dưới màng phổi xếp chồng lên nhau, nhưng nó cũng có thể dưới dạng một lớp. Trong những trường hợp này, phân biệt giữa tổ ong và khí phế thũng cận vách hoặc giãn phế tiểu phế quản co kéo có thể khó khăn. Giãn phế quản/tiểu phế quản co kéo là một đặc điểm chính của xơ phổi, có thể biểu hiện từ sự bất thường tinh tế của thành phế quản hoặc không giảm dần đường kính phế quản, cho đến những tổn thương rõ ràng như đường dẫn khí xoắn vặn hay giãn dạng tràng hạt. Tổn thương thường nằm ở ngoại vi, dưới màng phổi trong UIP và thường cùng tổn tại với tổ ong.

Kính mờ (Ground-glass) được định nghĩa là hình tăng đậm độ của phổi nhưng vẫn bảo tồn đường bờ của mạch máu và phế quản. Một điều quan trọng là cần phân biệt hình kính mờ “thuần” (“Pure” ground-glass) với hình kính mờ do chồng lên nhau của tổn thương lưới mịn. Hình kính mờ “thuần” không đặc trưng cho UIP. Ngược lại kính mờ do sự chồng hình của tổn thương lưới mịn đại diện cho xơ hoá và có thể tìm thấy trên bệnh xơ phổi vô căn, sự hiện diện của giãn phế quản/tiểu phế quản co kéo giúp phân biệt.

Hướng dẫn của ATS/ERS/JRS/ALAT 2018 khuyến khích sử dụng 4 mức độ chẩn đoán trên hình ảnh cho UIP bao gồm UIP, có thể là UIP (Probable UIP), không xác định UIP (determinate for UIP) và chẩn đoán khác (Bảng 1).

Bảng 1: Chẩn đoán UIP trên HRCT

UIP điển hình là tiêu chuẩn trên hình ảnh của IPF. Tổn thương tổ ong là tổn thương phải có cho một chẩn đoán xác định UIP trên HRCT (hình 1). Giãn phế quản/tiểu phế quản co kéo vùng ngoại vi có thể có hoặc không. Tổn thương điển hình phân bố dưới màng phổi ưu thế vùng đáy mặc dù nhiều trường hợp có thể liên quan tới thuỳ trên. Phân bố không đối xứng hai bên có thể gặp tới 25% các trường hợp. Hạch trung thất có thể hiện diện trong UIP. Tổn thương kính mờ có thể có tuy nhiên không ưu thế.

Hình 1: UIP điển hình trên HRCT. Tổn thương tổ ong phân bố ưu thế dưới màng phổi đáy hai bên. Hình E là hình phóng lớn cho thấy đặc điểm điển hình của tổ ong với các tổn thương có bờ rõ và đường kính thay đổi, sắp xếp một hoặc nhiều lớp.

Chẩn đoán Có thể là UIP (Probable UIP) ở các trường hợp có tổn thương dạng lưới với giãn phế quản/tiểu phế quản co kéo phân bố dưới màng phổi ưu thế vùng đáy mà không có tổn thương tổ ong (hình 2). Tổn thương kính mờ có thể có tuy nhiên không ưu thế. Khoảng 30% tổn thương không điển hình trên HRCT có kiểu hình UIP/IPF trên mô bệnh học. Do đó, chẩn đoán Không xác định UIP (indeterminate for UIP) được đặt ra khi HRCT thể hiện các đặc điểm của xơ hóa nhưng không đáp ứng tiêu chí UIP hay probable UIP mà không gợi ý rõ ràng một chẩn đoán thay thế (hình 3). Trong một số trường hợp của bệnh xơ phổi, có nghi ngờ lâm sàng của IPF, nhưng HRCT gợi ý một chẩn đoán thay thế, trong trường hợp như vậy, một chẩn đoán khác nên được xem xét.

Hình 2: Có thể là UIP. Tổn thương dạng lưới với giãn phế quản co kéo phân bố ưu thế dưới màng phổi đáy hai bên. Lưu ý sự hiện diện đồng thời của các đám mờ kính nhẹ ở các vùng dưới màng phổi hai bên và không có tổ ong. UIP được chứng minh trên mô bệnh học.

Hình 3: UIP không xác định. Tổn thương kính mờ và hình lưới tinh tế vùng dưới màng phổi (mũi tên) với ưu thế đáy hai bên. Hình E tư thế nằm sấp chứng minh tổn thương không liên quan tới tư thế. UIP được chứng minh trên mô bệnh học.

Hình 4: CT gợi ý chẩn đoán khác. Hình A, B thì hít vào, tổn thương thâm nhiễm lan toả chừa vài tiểu thuỳ thứ cấp vùng đáy. Hình C thì thở ra có air trapping. Hình ảnh gợi ý chẩn đoán viêm phổi quá mẫn mạn tính.

Tài liệu tham khảo:

1. Diagnosis of Idiopathic Pulmonary Fibrosis - An Official ATS/ERS/JRS/ALAT Clinical Practice Guideline.

2. Diagnostic criteria for idiopathic pulmonary fibrosis: a Fleischner Society White Paper

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

U THỂ CẢNH

U thể cảnh (Carotid body tumor) là u mạch lành tính phát triển từ các tế bào cận hạch thể cảnh. U nằm tại vị trí chia động mạch cảnh với hình ảnh đặc trưng là làm rộng chỗ chia động mạch cảnh trong và cảnh ngoài. U thể cảnh là loại u cận hạch thường gặp nhất ở vùng đầu cổ (khoảng 60-70%), gặp ở tuổi 40-50 và có khuynh hướng gặp nhiều hơn ở nữ như những u cận hạch khác ở vùng này. Khoảng 10% các trường hợp u gặp ở cả hai bên.

Đặc điểm lâm sàng

U thể cảnh có biểu hiện lâm sàng là một khối tròn ở cổ phát triển chậm. Khối thường nằm trước cơ ức đòn chũm, gần góc hàm và ngang mức xương móng. Đặc điểm điển hình, u có thể di chuyển sang bên nhưng không di chuyển được lên xuống do vị trí nằm trong bao cảnh.

Các dây thần kinh sọ chạy trong bao cảnh có thể bị ảnh hưởng (thiệt hầu, lang thang, phụ và hạ thiệt) có thể bị ảnh hưởng, đi kèm với các triệu chứng có liên quan.

Những khối u này có thể tổng hợp và tiết ra catecholamine, mặc dù ít phổ biến hơn so với u tuyến thượng thận (pheochromocytomas)

Đặc điểm hình ảnh

U thể cảnh nằm tại vị trí chia động mạch cảnh với hình ảnh đặc trưng là làm rộng chỗ chia động mạch cảnh trong (ICA) và cảnh ngoài (ECA). Trên tất cả các phương tiện hình ảnh, mức độ giàu mạch của u được biểu hiện ở mức độ ngấm thuốc tương phản mạnh.

Cắt lớp vi tính có tương phản là phương tiện rất tốt để đánh giá tổn thương này.

Hình ảnh điển hình trên CT:
  • Khối đậm độ mô mềm trên hình không thuốc (giống đậm độ cơ)
  • Ngấm thuốc mạnh và nhanh (nhanh hơn schwannoma).
  • Rộng chỗ chia ICA và ECA
  • Góc tiếp xúc theo chu vi của khối u với ICA cũng có thể được phân loại theo hệ thống nhóm Shamblin
    • nhóm I: bao quanh <180 độ
    • nhóm II: bao quanh 180-270 độ
    • nhóm III: bao quanh >270 độ


Hình 1: (Trái) U tại vị trí chia đôi động mạch cảnh được nuôi từ động mạch hầu lên. (Phải) Hình CT có tương phản, u ngấm thuốc mạnh, đồng nhất.


Hình 2: (Trái) Hình T1W, khối tròn trong khoang cảnh trái, giữa hai động mạch cảnh (mũi tên cong) có hiện diện mạch máu nuôi (mũi tên hở). (Phải) Hình T1W Gd FS, khối ngấm thuốc mạnh, tĩnh mạch cảnh trong bị đè ép (mũi tên hở)

Cộng hưởng từ:
  • T1W 
    • Đồng hoặc giảm tín hiệu so với cơ
    • Khối kích thước lớn có hình ảnh muối tiêu (salt and pepper), muối là hình ảnh chảy máu bán cấp, tiêu là flow voids
    • Ngấm thuốc mạnh sau tiêm Gado
  • T2W
    • Tăng tín hiệu so với cơ
    • Hình ảnh muối tiêu
Siêu âm:
  • Khối kém âm tại vị trí chia đôi động mạch cảnh
  • Tưới máu nhiều trên Doppler màu
  • Phổ Dopper sức cản thấp

Hình 3: (Trái) Hình siêu âm tháng xám, khối kém âm giới hạn rõ (mũi tên) nằm vị trí chỗ chia, giữa ICA (mũi tên hở) và ECA (mũi tên cong). (Phải) Hình siêu âm Doppler, khối giàu mạch máu, phổ dạng dòng chảy sức cản thấp.

Điều trị và tiên lượng

Phẫu thuật cắt bỏ là phương pháp điều trị được lựa chọn. Khối u càng lớn thì nguy cơ biến chứng phẫu thuật càng cao. Ở những bệnh nhân có nguy cơ biến chứng không thể phẫu thuật, xạ trị có thể được xem xét.

Chuyển dạng ác tính gặp trong 2-36% trường hợp với di căn phổ biến nhất đến xương, phổi và gan và các hạch bạch huyết vùng.

Chẩn đoán phân biệt

Các chẩn đoán phân biệt chính trên hình ảnh bao gồm:
  • vagal schwannoma
  • vagal neurofibroma
  • hypervascular lymphadenopathy
  • glomus vagale tumor

Tài liệu tham khảo:
  1. Carotid body tumor - https://radiopaedia.org/articles/carotid-body-tumour
  2. Diagnostic Imaging Head and Neck 3rd



Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2022

Dấu hiệu tràn khí phúc mạc trên X QUANG bụng

Tràn khí phúc mạc (Pneumoperitoneum) là hiện tượng có khí tự do trong ổ phúc mạc. Các nguyên nhân chính:

- Thủng ổ loét dạ dày-tá tràng.

- Thủng ruột thừa/túi thừa viêm.

- Sau phẫu thuật.

- Chấn thương.

Ở tư thế đứng, khí tự do trong phúc mạc sẽ tụ dưới hoành, tạo hình liềm khí dưới hoành. Đây là hình sáng, dạng hình liềm nằm giữa gan-dạ dày và cơ hoành. Liềm khí có thể ở một hoặc hai bên. Liềm khí dưới hoành thấy được khi lượng khí khoảng 20-50 ml; thấy rõ khoảng 6-8 giờ sau thủng và thấy trong 60% trường hợp.

Hình 1: Liềm hơi dưới hoành hai bên.

Cần phân biệt:

- Túi khí dạ dày: Độ dày từ phần khí trong túi khí dạ dày đến đáy phổi dày hơn độ dày của cơ hoành trong tràn khí ổ bụng.

- Mô phổi bình thường nằm giữa đáy phổi và cung sườn sát với trên đáy phổi.

- Hội chứng Chilaiditi: Ruột (thường là đại tràng) nằm giữa gan và cơ hoành.

Hình 2: Hội chứng Chilaiditi.

Dấu Rigler: còn gọi là dấu thành đôi. Bình thường chỉ thấy rõ thành trong của ruột. Khi có tràn khí phúc mạc, khí tự do bao bọc xung quanh các quai ruột kết hợp với khí trong lòng ruột làm nổi bật lên được thành ruột, nên trên x-quang thấy được thành trong và ngoài của ruột.

Hình 3: Tràn khí phúc mạc. Các quai ruột được bao quanh bởi khí (vùng tô màu). Vòng tròn trắng đánh dấu vị trí nhìn rõ dấu hiệu Rigler nhất. Vòng tròn nét đứt chỉ vị trí quai ruột xuất hiện bình thường.

Khí quanh gan: Đường bờ của gan có thế dễ dàng quan sát thấy khi có khí tự do bao quanh. Bình thường gan được bao quanh bởi mỡ phúc mạc. Khi có tràn khí phúc, gan được bao xung quanh bởi khí tạo tương phản giúp quan sát được đường bờ gan.

Hình 4: Tràn khí phúc mạc lượng lớn. Phim bên phải được tô màu xanh vùng khí tự do nhìn rõ nhất. Ở các đoạn thấy rõ dấu hiệu Rigler, các quai ruột được tô màu nâu. Vòng tròn trắng đánh dấu vị trí nhìn rõ dấu hiệu Rigler nhất. Đường viền trắng đánh dấu dấu hiệu khí quanh gan.

Dấu hiệu dây chằng liềm: Dây chằng liềm là dây chằng nối gan với thành bụng trước (di tích của tĩnh mạch rốn). Bình thường ta không nhìn thấy trên phim, nhưng khi có khí tự do dây chằng liềm có thể thấy được trên phim ở tư thế nằm ngửa.

Hình 5: Bệnh nhi tràn khí phúc mạc với dấu hiệu Dây chằng liềm (mũi tên) và dấu hiệu Rigler (khoanh tròn).



Tài liệu tham khảo:

1. Bài giảng Chẩn đoán X quang - PGS. TS. Phạm Ngọc Hoa, Ths. Lê Văn Phước.

2. Abdominal X-rays for Medical Students - Christopher Clarke, Anthony Dux.